Thâm hụt account vãng lai của Indonesia hiện đã đạt gần 4,4% GDP trong quý 2-2013, mức cao nhất trong một thập kỷ do giá hàng hóa như than, đá, dầu cọ và đồng cũng như nhu cầu bên ngoài sụt giảm (nhất là từ Trung Quốc)

Đối với hồ hết các nước, số dự trữ này sẽ đủ bù đắp cho khoảng 7 - 8 tháng nhập cảng, trong khi năm 1997, dự trữ ngoại hối chỉ đáp ứng được 3 hoặc 4 tháng du nhập. Thành ra, bất kỳ sự sụt giảm nào từ nhu cầu bên ngoài cũng tác động tiêu cực đến các nền kinh tế này.
Tỷ lệ nợ của Malaysia đã đạt 53% GDP, còn Thái Lan là 40% GDP. Giảm rủi ro Theo trang Stratfor, dù các nhà nước ở Đông Nam Á có thể không phải trải qua các cuộc khủng hoảng tiền tệ như những năm cuối thập niên 1990 nhưng mỗi nước Đông Nam Á đang cảm nhận được tác động của chu kỳ điều chỉnh khác nhau, tùy theo cấu trúc kinh tế và rủi ro chính trị của riêng mình.
Xuất khẩu hàng hóa chiếm khoảng 50% tổng xuất khẩu của sơn hà, 40% nguồn thu của chính phủ. Ảnh: Hàng du nhập tại cảng ở Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Nhu cầu từ Trung Quốc giảm khiến hàng hóa xuất khẩu từ các nước Đông Nam Á gặp khó khăn. Bên cạnh đó, các nước ASEAN đã ứng dụng cơ chế bàn thảo ngoại hối linh hoạt, khiến rủi ro khủng hoảng giảm bớt so với năm 1997, khi hầu hết các nước dùng biện pháp khăng khăng tỷ giá.
KHÁNH MINH (tổng hợp). Trên thực tiễn, giá trị của đồng real (Brazil), đồng rupi (Ấn Độ) và đồng rupiah (Indonesia) đã mất giá khoảng 10% trong 3 tháng qua, khiến mọi người liên can lại các cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mexico (1994), và châu Á (1997).
Từ năm 1997 - 2012, dự trữ ngoại hối của 10 nước ASEAN đã tăng từ khoảng 200 tỷ USD đến khoảng 800 tỷ USD. Mỗi nhà nước đã tích cực tăng dự trữ ngoại hối của riêng mình và ở mức độ thấp hơn là thông qua các quỹ tạo thanh khoản khu vực trong tình trạng khủng hoảng như quỹ được thiết lập với Sáng kiến Chiang Mai.
Các cuộc khủng hoảng này đã làm cho nền kinh tế các nước rơi vào suy thoái kéo dài, dẫn đến bất ổn tầng lớp và thậm chí cả thay đổi chế độ.
Trên thế giới, các nền kinh tế mới nổi đang chịu nhiều sức ép sau động thái giảm bớt gói kích thích tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED).
Điều này không có tức là sẽ sớm xảy ra khủng hoảng nhưng nó sẽ tác động đến niềm tin đầu tư, tạo nguy cơ rút vốn ồ ạt khỏi các thị trường này. Sau năm 1997, thành viên các nước ASEAN đã ứng dụng một số biện pháp nhằm hạn chế khả năng dẫn tới một cuộc khủng hoảng hao hao.
Thái Lan đã chuyển từ mức thặng dư sang thâm hụt account vãng lai tới 5,1% GDP. Theo đó, Malaysia dự báo tăng trưởng kinh tế chỉ đạt từ 4,5% - 5% (giảm từ mức dự báo 5% - 6% trước đó) và Thái Lan dự báo kinh tế sẽ chỉ tăng trưởng 3,8% - 4,3% (so với 4,2% - 5,3% trước đó). Do phụ thuộc quá lớn vào xuất khẩu, nhất là xuất khẩu nguyên liệu thô, chiếm khoảng 30% tổng xuất khẩu của Malaysia và 15% tổng xuất khẩu của Thái Lan, sự sụt giảm nhu cầu bên ngoài đã tác động tiêu cực cả 2 quốc gia này, buộc họ phải điều chỉnh dự báo tăng trưởng.
Khó khăn này dẫn tới nợ nước ngoài tăng mạnh ở cả 2 nhà nước. Cái bóng của năm 1997 Tuy nhiên, việc đồng tiền đang giảm giá và nguồn vốn chạy khỏi thị trường là miêu tả của rủi ro khủng hoảng tại các nền kinh tế này, điều đó cũng không đổi thay nhiều kể từ năm 1997.
Dù cụ giảm mức độ phụ thuộc vào thương nghiệp ở một số nhà nước, tăng trưởng kinh tế các nước ASEAN vẫn phụ thuộc phần đông vào xuất khẩu như xuất khẩu chiếm khoảng 31% GDP của Philippines, 80% GDP của Malaysia.
Các chính phủ trong khu vực sợ rằng nếu thanh khoản toàn cầu giảm mạnh cùng với tác động thụ động từ các nền kinh tế mới nổi khác có thể một lần nữa lại làm tổn hại đến các nền kinh tế Đông Nam Á.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét